Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Xử lý người đánh bạc dưới 18 tuổi

KHÁCH HÀNG HỎI:
Thưa luật sư em tôi năm nay 17 tuổi, cách đây 2 năm có chơi đánh bạc bằng cách mượn tiền của người tham gia đánh bạc dẫn đến thiếu nợ 1 triệu đồng. Gia đình tôi đã tích cực đầu thú và em tôi bị cảnh cáo. Tới thời điểm hiện tại em tôi đang học lớp 12, lại tiếp tục tham gia chơi đánh bạc bằng cách lắc tài xỉu ăn tiền mỗi lần cược 500- 1.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền chơi là do mượn của những người tham gia và của người xem xung quanh. Tổng số tiền mượn là 20 triệu đồng. Gia đình tôi dự định là sẽ đưa em tôi trình báo công an. Vậy thưa luật sư thì trường hợp của em tôi sẽ bị phạt hành chính và phạt tù như thế nào? Em tôi có được hưởng khoan hồng hay không?

LUẬT TIỀN PHONG TRẢ LỜI
1.      Quy định về tội đánh bạc và mức hình phạt đối với tội này.
Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về hành vi đánh bạc như sau:  Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
Khoản 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
từ ba triệu đồng đến ba mươi  triệu đồng.
Đối với tội phạm này nhà làm luật quy định giá trị tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự, tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc bao gồm:
- Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được thực hiện tiếp tại chiếu bạc;
- Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà còn căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc;
- Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc.
Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc.
Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự như sau:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Theo quy định của pháp luật hình sự em bạn đã đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của em bạn đã cấu thành tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 248 với mức hình phạt cao nhất là bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Và em bạn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.
2.      Hình phạt tù đối với người chưa đủ 18 tuổi
 “ Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:
1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định” (Điều 74 Bộ luật Hình sự).
Em bạn năm nay 17 tuổi là người chưa thành niên, nên mức phạt cao nhất được áp dụng đối với trường hợp của em bạn là không quá ¾ mức phạt tù mà Luật quy định tức là không quá ¾ của 3 năm tù là 27 tháng.
3.      Hình thức khoan hồng đối với người phạm tội
Đoạn 3 khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự quy định nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội là: Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.
Đồng thời điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự quy định về các tình tiết được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có: o) Người phạm tội tự thú;
Theo đó, nếu như gia đình tích cực vận động em bạn đi tự thú thì có thể sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Luật Tiền Phong chuyên tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với chúng tôi qua số tổng đài 1900 6289 để được tư vấnpháp luật miễn phí. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét