Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016

Các biện pháp bảo đảm thi hành án

Luật Tiền Phong - Luật Thi hành án dân sự năm 2014 đã quy định các biện pháp bảo đảm thi hành án để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn công tác thi hành án hiện nay. Vậy pháp luật quy định về các biện pháp này như thế nào?
1.      Biện pháp phong tỏa tài khoản
Theo từ điển Tiếng việt “phong tỏa tài khoản” là đặt tài khoản ở trạng thái tĩnh, không thể thực hiện bất kì một hoạt động giao dịch nào trên tài khoản. Trong thi hành án dân sự, phong tỏa tài khoản là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và họ có tiền gửi trong tài khoản ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác. Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản nhằm cô lập, đặt tài khoản của người phải thi hành án trong tình trạng bị phong tỏa, không thể sử dụng được, ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản.
Các biện pháp bảo đảm thi hành án

Hiện nay biện pháp phong tỏa tài khoản được quy định tại Điều 67 Luật Thi hành án dân sự 2014
-     Về bản chất: là biện pháp áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền
-         Đối tượng áp dụng là số dư tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án
-         Điều kiện áp dụng:
+ Người phải thi hành án có số dư trong tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
+ Khi cần ngăn chặn tẩu tán tiền trong tài khoản
 “Chấp hành viên có quyền

tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự” áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án. Như vậy, đây là quyền hoàn toàn chủ động của chấp hành viên trong việc phong toả tài khoản của người phải thi hành án và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình (trừ trường hợp đương sự yêu cầu) với một mục đích duy nhất là nhằm kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tiền dưới mọi hình thức trong tài khoản của người phải thi hành án. Có thể khẳng định rằng những quy định về biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản được quy định trong Luật Thi hành án dân sự rất tiến bộ, phù hợp với thực tiễn công tác thi hành án dân sự. 
2.      Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được quy định tại Điều 68 Luật thi hành án dân sự. Theo điều luật này có 2 biện pháp bảo đảm thi hành án cụ thể.
-         Đối tượng áp dụng:
+ Tài sản, giấy tờ được tuyên trong các bản án, quyết định
      + Các tài sản, giấy tờ không được tuyên trong bản án nhưng của người phải thi hành án, có giá trị và có thể kê biên để thi hành án.
-         Căn cứ áp dụng:
     + Khi phát hiện người phải thi hành án đang quản lí, sử dụng tài sản, giấy tờ, tài sản
     + Khi đương sự có hành vi hoặc có dấu hiệu tẩu tán, hủy hoại tài sản trốn tránh thi hành án.
Tạm giữ giấy tờ của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được tiến hành trên các động sản phải đăng kí quyền sở hữu, giấy tờ có giá hoặc bất động sản của người phải thi hành án. Việc áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ của đương sự là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá, kê biên quyền sở hữu trí tuệ, kê biên phương tiện giao thông, cưỡng chế trả giấy tờ.
3.  Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
Biện pháp này được quy định tại Điều 69 Luật thi hành án dân sự:
-         Đối tượng áp dụng: là các động sản phải đăng kí quyền sở hữu, sử dụng hoặc bất động sản của người phải thi hành án.
-                     Điều kiện:
     + Người phải thi hành án có tài sản thuộc đối tượng áp dụng
      + Người phải thi hành án có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng  tài sản, hủy hoại tài sản.
Tài sản bị tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án. Hiện nay, có rất nhiều tài sản, quyền tài sản mà việc chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Vốn góp của tổ chức, cá nhân tại doanh nghiệp; quyền sử dụng đất; phương tiện xe cơ giới. Đối với những tài sản này, để thực hiện mua bán, chuyển nhượng, các bên tham gia quan hệ mua bán, chuyển nhượng phải thực hiện thông qua việc đăng ký tại phòng đăng ký kinh doanh, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và sở hữu nhà… Quyền sở hữu, sử dụng của bên mua, bên nhận chuyển nhượng chỉ được xác lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Chính vì thế, trường hợp đương sự có hành vi chuyển dịch tài sản, để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, thì chấp hành viên ra quyết định đề nghị cơ quan có thẩm quyền đăng ký dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản nhằm duy trì điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
Luật Tiền Phong tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900 6289 để được tư vấn pháp luật miễn phí. Chúng tôi có đội ngũ Luật sư và Chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp và tận tâm sẵn sàng hỗ trợ bạn trong mọi trường hợp có thể.
Trân trọng!



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét