Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

Phân biệt hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng liên doanh

Luật Tiền Phong - Hiện nay ở Việt Nam tồn tại nhiều hình thức đầu tư, tuy nhiên đối với các nhà đầu tư việc lựa chọn hình thức đầu tư nào để mang lại hiệu quả kinh doanh cũng như thuận lợi trong quá trình tiến hành mới là vấn đề đặt lên hàng đầu. Có thể nói, trong thời gian gần đây, hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, bất kì hình thức đầu tư nào bên cạnh ưu thế nổi trội cũng có những điểm hạn chế nhất định và hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC cũng không phải là ngoại lệ.
1.  Khái niệm Hợp đồng hợp tác kinh doanh và Hợp đồng liên doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là hình thức đầu tư được quy định trong pháp luật nhiều nước. Ở Việt Nam, định nghĩa khái quát về  hợp đồng hợp tác kinh doanh được quy định trong Luật Đầu tư 2014: “Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế”. (Khoản 9 Điều 3). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp lý của chính mình, nhân danh mình để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng.
“Hợp đồng liên doanh” là văn bản ký giữa hai bên hoặc nhiều bên về việc thành lập công ty liên doanh, hoặc là văn bản ký giữa công ty liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thành lập công ty liên doanh mới tại Việt Nam”.
2.  Điểm giống và khác nhau giữa hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng liên doanh
2.1.  Giống nhau
Phân biệt hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng liên doanh

Về bản chất có thể thấy cả 2 đều là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm hợp tác với nhau để cùng kinh doanh.
Chủ thể của 2 loại hợp đồng này đều có 2 bên hoặc nhiều bên, và đều bao gồm các đối tượng là nhà đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nội dung của hợp đồng đều chứa đựng thỏa thuận làm hình thành quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng đầu tư.
Đều là hình thức đầu tư trực tiếp.
2.2.  Khác nhau
-  Về chủ thể của hợp đồng:

+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh không giới hạn số lượng nhà đầu tư, có thể là nhà đầu tư trong nước ký kết hợp tác kinh doanh với nhà đầu tư nước ngoài hoặc những nhà đầu tư trong nước ký kết hợp đồng hợp tác với nhau.
+ Hợp đồng liên doanh thì phải có sự ký kết của một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước với một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài, sự tham gia của nhà đầu tư trong nước là điều kiện bắt buộc để hình thành nên hợp đồng liên doanh.
-  Về bản chất của hợp đồng:
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh là sự thỏa thuận của các bên để tiến hành hợp tác kinh doanh với nhau và được pháp luật coi là một hình thức đầu tư, nó tồn tại độc lập với các hình thức đầu tư khác.
+ Hợp đồng liên doanh không được coi là hình thức đầu tư, nó chỉ là cơ sở pháp lý ghi nhận quan hệ đầu tư. Nó là một văn bản bắt buộc phải có trong hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư. Hệ quả của quá trình ký kết hợp đồng liên doanh là một doanh nghiệp liên doanh ra đời.
-  Về nội dung thỏa thuận:
+ Trong hợp đồng hợp tác kinh doanh, vì việc ký kết hợp đồng không dẫn đến việc thành lập một pháp nhân mới tại Việt Nam phải hoạt động theo luật doanh nghiệp mà chỉ cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng chia sẻ kết quả kinh doanh cũng như rủi ro. Do vậy trong hợp đồng này các bên phải thỏa thuận các nội dung liên quan đến: thể thức góp vốn, phân chia lợi nhuận, kết quả kinh doanh,…
+ Còn hợp đồng liên doanh thì việc ký kết hợp đồng dẫn đến việc thành lập một pháp nhân theo luật doanh nghiệp Việt Nam nên nội dung của sự thỏa thuận phải có: loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh, điều kiện chấm dứt và giải thể doanh nghiệp – điều khoản này rất quan trọng
-  Về việc triển khai hợp đồng:
+ Trong hợp đồng hợp tác kinh doanh thì các nhà đầu tư phải tự tiến hành hoạt động đầu tư với quy chế do chính họ đặt ra và thỏa thuận trong hợp đồng, có thể coi sự thỏa thuận trong hợp đồng thể hiện sự nhất trí cao độ.
+ Còn trong hợp đồng liên doanh thì tính hiệu quả trong quá trình đầu tư của nhà đầu tư sẽ được phản ánh qua chính tình hình hoạt động của doanh nghiệp liên doanh đó.
-  Về việc sử dụng dấu, tư cách giao dịch:
+ Sau khi ký xong hợp đồng hợp tác kinh doanh, thường các bên phải thỏa thuận dùng dấu và danh nghĩa của một bên để giao dịch.
+ Trong hợp đồng liên doanh thì sau khi thành lập công ty liên doanh sẽ là pháp nhân độc lập, có con dấu riêng  và có tư cách pháp lý độc lập.
-  Về cơ sở phân chia rủi ro:
+ Đối với hợp đồng BBC thì dựa vào thỏa thuận trong hợp đồng
+ Đối với hợp đồng liên doanh thì sẽ dựa vào hợp đồng liên doanh và điều lệ pháp nhân mới được thành lập.
Chỉ ra các ưu, nhược điểm của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC, các nhà đầu tư có thể thấy được sự tiện lợi của loại hợp đồng này cũng như quản lý và lường trước những rủi ro khi tiến hành giao kết hợp đồng, nhất là việc kiểm soát vốn, tiếp cận thị trường, lựa chọn lĩnh vực đầu tư,… Mặt khác, việc phân biệt hợp đồng BCC với hợp đồng liên doanh sẽ giúp các nhà đầu tư tránh nhầm lẫn trong quá trình lựa chọn hợp đồng.

Luật Tiền Phong tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900 6289  để được tư vấn pháp luật miễn phí. Luật Tiền Phong với đội ngũ Luật sư và Chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp sẵn sàng hỗ trợ bạn trong mọi trường hợp có thể.

Trân trọng!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét