Luật
Tiền Phong - Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC là mô hình khá phổ biến hiện nay,
khi đó các bên tham gia góp vốn đầu tư vào dự án sẽ cùng nhau thỏa thuận và thống
nhất ký vào một bản hợp đồng trong đó có đầy đủ các điều khoản về tỉ lệ góp vốn,
phương thức hạch toán cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các bên góp vốn,…
1.
Ưu điểm của hình
thức đầu tư theo hợp đồng BCC
Thứ nhất, với cơ chế đàm
phán để chia sẻ lợi ích cũng như nghĩa vụ trong hoạt động đầu tư, đầu tư theo hợp
đồng hợp tác kinh doanh có tính linh hoạt, do không có ràng buộc về tổ chức bằng
một pháp nhân chung của các tổ chức, cá nhân có quan hệ đầu tư với nhau. Trong
quá trình thực hiện hợp đồng các nhà đầu tư đều nhân danh chính mình để thực hiện
các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận một cách chủ động và tích cực nhất. Điều
này giúp cho các nhà đầu tư có sự linh hoạt và toàn tâm toàn ý thực hiện hợp đồng.
Thứ hai, các bên không
phải thành lập pháp nhân mới, không phải tiến hành thủ tục thành lập doanh
nghiệp nên nhanh chóng tiến hành hoạt động kinh doanh đặc biệt với dự án có vốn
đầu tư nước ngoài, chỉ cần ký là bắt tay vào thực hiện dự án, qua đó giúp các
nhà đầu tư tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức và chi phí. Ngoài ra, trách
nhiệm liên đới còn đặt ra đối với các thành viên sáng lập khi họ ký kết các hợp
đồng trước khi đăng ký kinh doanh mà doanh nghiệp đó lại không được thành lập.
Do đó có thể nói
BCC
là một lựa chọn thông minh cho các nhà đầu tư muốn thực hiện dự án một cách
nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và công sức cũng như không bị ràng buộc.
Thứ ba, với nhà đầu tư
thì tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại vào được những
lĩnh vực hạn chế đầu tư; thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước
chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và
xây dựng các mối quan hệ, không bị tác động lớn do khác biệt về văn hóa; chia sẻ
được chi phí và rủi ro đầu tư. Quyền tự do hợp đồng còn giúp cho các nhà đầu tư
khi ký kết hợp đồng BCC được tự do lựa chọn phương án góp vốn, phân chia kết quả
kinh doanh sao cho phù hợp với mức độ đóng góp của các bên. Và việc ký kết hợp
đồng BCC giúp cho các nhà đầu tư tăng doanh số sản xuất ở nước ngoài phát huy lợi
thế so sánh của mình, từ đó mở rộng thị trường tạo thương hiệu cho riêng mình.
Thứ tư, đối với nước
tiếp nhận thì giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra thị
trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền điều hành
dự án.
2.
Hạn chế của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC
Thứ
nhất, thiếu tư cách pháp nhân
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng BCC không làm phát sinh việc
thành lập doanh nghiệp mới. Chính vì lẽ đó, dự án đầu tư sẽ gặp khó khăn khi thực
hiện các hợp đồng vì thiếu tư cách pháp nhân. Hơn nữa, việc ký kết các hợp đồng
phục vụ cho hợp đồng BCC sẽ không có đóng dấu của con dấu riêng mà chỉ có một
con dấu duy nhất được lựa chọn từ trong số các bên tham gia hợp đồng BCC. Chính
vì vậy, nó hình thành nên tâm lý bất an và mối lo ngại của nhà đầu tư. Bên bỏ
tiền đầu tư, sẽ cảm thấy bị trói buộc, không chủ động vì mọi việc đều phải
thông qua con dấu của đối tác. Hơn nữa, bên còn lại thì mang nỗi lo về trách
nhiệm của người trực tiếp đóng con dấu cũng như tạo ra rào cản vô hình về lòng
tin và sự tận tâm thiện chí của các bên;
Thứ
hai, hạn chế về việc quy định địa vị pháp lý của các bên
Có thể thấy, pháp luật chưa có các quy định chi tiết về trách nhiệm
của các bên và bên thứ ba khi một bên giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong quá
trình thực hiện hợp đồng BCC. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên phải sử dụng
các thiết chế của hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự để giải quyết. Đây
cũng là gánh nặng rủi ro cần được dự liệu trước trong khi thực hiện hợp đồng
BCC.
Hơn nữa, mặc dù góp vốn theo tỷ lệ nhưng quyền quản lý dự án đầu tư sẽ
được chia đều và ngang bằng như nhau cho tất cả các nhà đầu tư, như vậy sẽ có lợi
cho các nhà đầu tư bỏ ra ít vốn hơn nhưng lại không công bằng với các nhà đầu
tư bỏ nhiều vốn hơn;
Thứ ba, các nước tiếp nhận
khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời;
Thứ tư, nhiều điều khoản
quan trọng của hợp đồng hợp tác kinh doanh cần thông qua Đại hội cổ đông hoặc
ít nhất là Hội đồng quản trị của các bên, do vậy có thể phải tiến hành một đại
hội cổ đông bất thường để thông qua nội dung của hợp đồng, việc ký kết hợp đồng
có thể chậm hơn dự kiến;
Thứ năm, việc thương lượng
phân chia tỷ lệ góp vốn đồng nghĩa với tỷ lệ lợi nhuận được hưởng sẽ kéo dài vì
bên nào cũng muốn có nhiều quyền lợi, việc làm sao cân bằng hài hòa được quyền
lợi của mỗi bên sẽ dẫn đến việc chậm ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh. Về sau
nếu có việc điều chỉnh tỉ lệ góp vốn trong hợp đồng hợp tác kinh doanh sẽ không
dễ vì trong quá trình triển khai dự án có thể có những biến động làm ảnh hưởng
đến quyền lợi của các bên góp vốn;
Thứ sáu, việc phê duyệt
dự án phải có tất cả các bên góp vốn cùng phê duyệt cũng là một trở ngại làm chậm
quá trình thực hiện dự án.
Luật Tiền Phong tư vấn pháp luật và cung cấp
các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900 6289 để được tư vấn
pháp luật miễn phí. Luật Tiền Phong có một đội ngũ Luật sư và Chuyên viên tư vấn
chuyên nghiệp, tận tâm sẵn sàng hỗ trợ bạn trong mọi trường hợp có thể.
Trân trọng!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét