Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

Bị từ mặt có được hưởng thừa kế nữa hay không

KHÁCH HÀNG HỎI:
Do có một số mâu thuẫn trong gia đình, bố tôi từ mặt tôi, không nhận làm con nữa, nhưng chỉ tuyên bố trước cả nhà chứ không có giấy tờ xác định.
Vậy xin hỏi theo quy định của pháp luật tôi có được quyền được thừa kế nữa không?
LUẬT TIỀN PHONG TRẢ LỜI:
“Từ con” được hiểu là cha mẹ không coi đó là con mình nữa, chấm dứt quan hệ ruột thịt thân thích với người con đó. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không tồn tại khái niệm “từ con” trong hệ thống quy phạm. Tức là cha mẹ không được thực hiện hành vi này, cũng như việc thực hiện hành vi này của cha mẹ không được thừa nhận theo pháp luật, trừ trường hợp cha mẹ chứng minh được đó không phải là con mình và có quyết định hoặc bản án của Tòa án có thẩm quyền.
Bị từ mặt có được hưởng thừa kế nữa hay không

Nếu bố bạn tuyên bố trước cả gia đình, dòng họ hay với mọi người rằng không thừa nhận bạn là con nữa thì về mặt pháp lý tuyên bố này cũng không có giá trị, quan hệ cha con cũng không bị mất đi mà vẫn được pháp luật công nhận. Và vì thế, việc bố bạn “từ mặt” bạn cũng sẽ không ảnh hưởng đến quyền thừa kế của bạn mà phụ thuộc vào nội dung của bản di chúc mà bố bạn để lại.
Nếu bản di chúc mà bố bạn để lại là hợp pháp theo quy định tại Điều 652 BLDS năm 2005 thì việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc là bố bạn. Khi đó, trong bản di chúc nếu bố bạn không
chia di sản cho bạn thì đương nhiên bạn không được hưởng và cũng không có quyền yêu cầu chia cho mình.
Bộ luật dân sự 2005 quy định về di chúc hợp pháp tại Điều 652 như sau:
“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”.
- Nếu bản di chúc của bố bạn để lại không có hiệu lực pháp luật, hoặc bố bạn không để lại di chúc thì khi đó di sản của bố bạn để lại trong bản di chúc đó sẽ được chia theo pháp luật. Bạn là con, thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên sẽ được hưởng 1 phần di sản mà bố bạn để lại theo quy định về hàng thừa kế tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 nếu bạn không thuộc vào một trong các trường hợp quy định tại Điều 643 về các trường hợp không được quyền hưởng di sản, đó là:
“a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”
Luật Tiền Phong tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900 6289 để được tư vấnpháp luật miễn phí.

Trân trọng!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét