KHÁCH HÀNG HỎI:
Do có một số mâu thuẫn trong gia đình, bố tôi từ mặt tôi, không nhận làm
con nữa, nhưng chỉ tuyên bố trước cả nhà chứ không có giấy tờ xác định.
Vậy xin hỏi theo quy định của pháp luật tôi có được quyền được thừa kế
nữa không?
LUẬT TIỀN
PHONG TRẢ LỜI:
“Từ con” được hiểu là cha mẹ không coi đó là
con mình nữa, chấm dứt quan hệ ruột thịt thân thích với người con đó. Tuy
nhiên, pháp luật Việt Nam không tồn tại khái niệm “từ con” trong hệ thống quy
phạm. Tức là cha mẹ không được thực hiện hành vi này, cũng như việc thực hiện
hành vi này của cha mẹ không được thừa nhận theo pháp luật, trừ trường hợp cha
mẹ chứng minh được đó không phải là con mình và có quyết định hoặc bản án của
Tòa án có thẩm quyền.
Nếu bố bạn tuyên bố trước cả gia đình, dòng họ
hay với mọi người rằng không thừa nhận bạn là con nữa thì về mặt pháp lý tuyên
bố này cũng không có giá trị, quan hệ cha con cũng không bị mất đi mà vẫn được
pháp luật công nhận. Và vì thế, việc bố bạn “từ mặt” bạn cũng sẽ không ảnh hưởng
đến quyền thừa kế của bạn mà phụ thuộc vào nội dung của bản di chúc mà bố bạn để
lại.
Nếu bản di chúc mà bố bạn để lại là hợp pháp theo quy định tại Điều 652
BLDS năm 2005 thì việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo ý chí của người
để lại di chúc là bố bạn. Khi đó, trong bản di chúc nếu bố bạn không
chia di sản cho bạn thì đương nhiên bạn không được hưởng và cũng không có quyền yêu cầu chia cho mình.
Bộ luật dân sự 2005 quy định về di chúc hợp pháp tại Điều 652 như sau:
“1. Di chúc được coi
là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc
minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng
ép;
b) Nội dung di chúc
không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của
pháp luật.
2. Di chúc của người
từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và
phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3. Di chúc của người
bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng
lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn
bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các
điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được
coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình
trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi
chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc
chứng thực”.
- Nếu bản di chúc của bố bạn để lại không có hiệu lực pháp luật, hoặc bố
bạn không để lại di chúc thì khi đó di sản của bố bạn để lại trong bản di chúc
đó sẽ được chia theo pháp luật. Bạn là con, thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên sẽ
được hưởng 1 phần di sản mà bố bạn để lại theo quy định về hàng thừa kế tại
Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 nếu bạn không thuộc vào một trong các trường hợp
quy định tại Điều 643 về các trường hợp không được quyền hưởng di sản, đó là:
“a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người
để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ
nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản
mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc
ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa
di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của
người để lại di sản.”
Luật Tiền Phong tư vấn pháp luật và cung cấp
các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900 6289 để được tư vấnpháp luật miễn phí.
Trân trọng!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét