Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Ly thân và Ly hôn khác nhau như thế nào

Luật Tiền Phong Khi cuộc sống hôn nhân không còn êm ấm, nhiều đôi vợ chồng  lựa chọn cách sống ly thân. Tuy nhiên, mọi người hay nhầm lẫn giữa ly thân và ly hôn, cho rằng ly thân cũng giống như ly hôn về hậu quả pháp lý, tài sản, quyền nuôi con
Sự khác biệt chính giữa ly thân và ly hôn là ở chỗ ly hôn chấm dứt hôn nhân của bạn là một chế định được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Ly thân có nghĩa là hai người vẫn còn là vợ chồng, nhưng bạn không còn chung sống với chồng hoặc vợ của mình nữa. Bạn cần phải ra tòa để được xử ly hôn. Bạn không cần ra tòa để sống ly thân.
Ly thân và ly hôn khác nhau như thế nào

1. Ly hôn

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Quyền yêu cầu ly hôn : Việc ly hôn có thể do chồng hoặc vợ yêu cầu ly hôn hoặc Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Căn cứ cho ly hôn:

*Căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn: Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.
* Căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên:
Ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng, hoặc cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn:

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Về tài sản sau ly hôn:

Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong Luật HNGĐ năm 2014 đã chia ra làm 2 trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận để đưa ra các nguyên tắc giải quyết phù hợp nhất. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong Luật HNGĐ năm 2014 có điểm nổi bật hơn so với Luật HNGĐ năm 2000 đó là có tính đến yếu tố yếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Điều phần sẽ phần nào cảnh tỉnh những người có ý định vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, nâng cao trách nhiệm đối với gia đình của vợ, chồng. Bên cạnh đó, Luật HNGĐ năm 2014 còn bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn nhằm thống nhất với quy định về bảo về quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong Bộ luật dân sự. Ngoài ra, trong luật mới cũng quy định thêm quyền lưu cư cho vợ, chồng mà sau khi ly hôn gặp khó khăn về chỗ ở và quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh nhằm làm cho hoạt động kinh doanh của vợ, chồng không bị gián đoạn sau khi ly hôn, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

2. Ly thân

Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành hoàn toàn không có chế định về ly thân. Vì luật không quy định nên không có một định nghĩa chính xác về ly thân, cũng không có cơ quan, tổ chức nào đứng ra giải quyết cho ly thân theo hướng ra quyết định hoặc bản án công nhận cho ly thân. Trong quy định về căn cứ cho ly hôn cũng không có quy định là vợ chồng phải sống ly thân một thời gian rồi mới được ly hôn.
Ly thân, hiểu đơn giản là sự sống riêng giữa vợ và chồng, như là không ăn chung, ở chung, không sinh hoạt vợ chồng. Mục đích của ly thân, theo quy định của luật pháp các nước là để giảm thiểu những căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ và chồng hoặc tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra. Đồng thời để các bên có thời gian suy ngẫm, ăn năn hối cải, khắc phục lỗi lầm, sửa đổi tính tình, tha thứ cho nhau… để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống. Ly thân không làm chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng nên trong thời gian sống ly thân, các bên vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với con chung và tài sản.
Mặt khác, nếu qua quá trình ly thân mà tình trạng vợ chồng vẫn trầm trọng, vợ hoặc chồng vẫn chứng nào tật nấy, không cảm thông, tha thứ cho nhau, không khắc phục lỗi lầm, không dung hòa… khi ấy, các bên có thể xin ly hôn.
Như vậy, ly thân là để hướng đến sự đoàn tụ, chứ không phải để hướng đến ly hôn. Với ý nghĩa đó, ly thân không phải là bước đệm để ly hôn. Tuy nhiên, nếu sau một thời gian ly thân mà các bên vẫn không thể nào đoàn tụ được, lúc đó ly thân là cơ sở để tòa án xem xét giải quyết thủ tục ly hôn.
Luật Tiền Phong chuyên cung cấp các thông tin pháp luật, tư vấn, hỗ trợ các dịch vụ pháp lý. Mọi thắc mắc quý khách vui lòng liên hệ tổng đài tư vấn 19006289. 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét