Theo
quy định Luật Cư trú năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư
trú năm 2013 tại Điều 3- Quyền tự do cư trú của công dân và Điều 11 – Trách nhiệm
của công dân về cư trú, công dân có quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ đăng ký (hộ
khẩu) thường trú hoặc tạm trú tại một địa điểm nhất định để cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thực hiện việc quản lý nhà nước về cư trú. Đồng thời theo quy định tại
Điều 9 thì công dân có quyền lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của
mình phù hợp với các quy định của luật này và các luật khác có liên quan.
Luật
không có quy định nào quy định rằng công dân đăng ký hộ khẩu ở địa chỉ nào thì
được sở hữu nhà đất ở địa chỉ đó. Việc công dân đăng ký hộ khẩu là nhằm mục
đích xác định nơi cư trú của công dân chứ không phải là căn cứ xác định quyền sở
hữu tài sản tại địa điểm đăng ký hộ khẩu của công dân.
Ví
dụ một gia đình muốn cho cháu vào nhập hộ khẩu cùng gia đình để thuận tiện cho
việc học hành của cháu thì khi đồng ý cho cháu ruột vào nhập khẩu cùng gia đình
thì cũng sẽ không làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của cháu đối với phần đất
và nhà của gia đình mà cháu đăng ký hộ khẩu thường trú. Cả trường hợp khi gia
đình muốn bán nhà hay đất thì cũng không cần có sự đồng ý của người cháu mới nhập
khẩu mà chỉ cần có sự đồng ý của những người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất.
Như vậy, không phải cứ có tên trong hộ khẩu thì cá nhân đương nhiên sẽ có quyền đối với tài sản nhà đất của gia đình. Việc xác định có quyền hay không phải dựa trên các yếu tố: có được hưởng thừa kế hay không, có công sức đóng góp, duy trì khối tài sản hay không,...
Luật Tiền Phong chuyên tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với chúng tôi qua số tổng đài 1900 6289 để được tư vấn pháp luật miễn phí.
Trân trọng!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét