Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Luật Tiền Phong Theo quy định của pháp luật hiện hành không phải cá nhân nào cũng có quyền tham gia vào các giao dịch dân sự mà chỉ những chủ thể có năng lực hành vi dân sự mới có quyền này. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Bài viết sau của Luật Tiền Phong sẽ làm rõ hơn khi nào thì cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, khi nào thì mất năng lực hành vi dân sự và trường hợp nào thì bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

1. Người không có năng lực hành vi dân sự

Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. ( Điều 21 Bộ luật dân sự). Vì đặc trưng về độ tuổi và nhận thức , pháp luật quy định người dưới 6 tuổi, không được phép tự mình xác lập giao dịch.Mọi giao dịch dân sự do người chưa đủ sáu tuổi thực hiện sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Trường hợp muốn thực hiện giao dịch, người đại diện theo pháp luật phải nhân danh mình thực hiện, có thể là bố, mẹ, ông, bà, anh chị em.

2. Người có năng lực dân sự chưa đầy đủ

Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, với những người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có năng lực hành vi dân sự bị hạn chế. Họ chỉ được tham gia vào những giao dịch dân sự trong phạm vi cho phép hoặc phục vụ những nhu cầu phù hợp với độ tuổi.

3.  Người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Trừ các trường hợp mất năng lực hành vi dân sự – Điều 22 BLDS và các trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi dân sự – Điều 23 BLDS. Trường hợp này, họ có đủ khả năng để bằng chính hành vi của mình thực hiện các giao dịch cần thiết, phù hợp với nhu cầu của bản thân mình.

4.  Người bị mất năng lực hành vi dân sự

Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Mọi giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp này cũng sẽ bị tuyên bố vô hiệu.

5.  Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Những người bị hạn chế năng lực dân sự là những người  nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Vì bị hạn chế khi thực hiện những hoạt động liên quan đến pháp luật nên giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Khi không có căn cứ để tuyên bố một người là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, được sự yêu cầu của chính người đó, người có quyền lợi liên quan và tổ chức hữu quan, Tòa án phải ra quyết định hủy bỏ việc tuyên một người là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự . Lúc này, hậu quả pháp lí là họ trở thành người có đầyđủ năng lực hành vi dân sự, được thực hiện các giao dịch dân sự bình thường.
Luật Tiền Phong chuyên cung cấp các thông tin pháp luật, tư vấn và hỗ trợ các dịch vụ pháp lý. Hãy liên hệ với chúng tôi qua tổng đài tư vấn miễn phí 1900 6289.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét