KHÁCH HÀNG HỎI:
Tôi sinh cháu ngày
05/12/2014. Vì sinh mổ và tình hình sức khỏe nên đến 15/01/2015 tôi
mới đi khai sinh cho cháu tại UBND thị trấn nơi tôi đăng ký thường trú.
Đây cũng là sự bàn bạc và thống nhất của 2 vợ chồng tôi để thuận mọi
việc sinh hoạt và học hành của con sau này. Cũng trong khoảng thời
gian ấy tôi lại thấy anh trai chồng, làm xã đội phó ở xã nơi bố
cháu đăng ký thường trú muốn khai sinh cho cháu thêm 1 lần ở đó. Tôi
có nói với mẹ chồng và chị dâu là vợ của anh ấy, điện thoại cho
anh ấy là nếu có chuyện đó thì tôi không
đồng ý vì sau này chỉ vì 1 tờ khai sinh sẽ làm ảnh hưởng và
rắc rối đến cuộc đời của con tôi. Tôi cũng nói chuyện này với chồng
là dứt khoát không thể được. Sau đó tôi không để ý đến chuyện này
nữa và mọi giấy tờ thủ tục của cháu tôi đều lấy theo tên vợ chồng
tôi đã thống nhất đặt cho cháu trước đó. Đến bây giờ bất chợt tôi
biết đến sự xuất hiện và tồn tại đến bản khai sinh mà anh trai
chồng đi khai sinh cho con mình. Tôi rất bức xúc và bất bình với cách
làm việc như thể anh trai chồng là người nắm quyền và quyết định.
Ngẫu nhiên con tôi có 2 tên, 2 lần khai sinh và sau này không biết cuộc
sống của cháu sẽ ra sao với lý lịch rắc rối này. Cho tôi biết bây
giờ tôi phải làm sao?
LUẬT TIỀN PHONG TRẢ LỜI:
1.
Quy định về việc đăng ký khai sinh
Theo quy định của Luật hộ tịch
2014 quy định thì:
Thẩm quyền đăng ký khai sinh
được quy định tại Điều 13 như sau:“Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người
mẹ thực hiện đăng ký khai sinh”.
Trách nhiệm đăng ký khai sinh được quy định rằng:“Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con,
cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không
thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc
cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ
em.”
Như vậy, ngoài cha, mẹ của đứa
trẻ là người có quyền và trách nhiệm đi khai sinh cho đứa trẻ thì còn có ông,
bà hoặc những người thân thích khác.
2.
Thủ tục đăng ký khai sinh
Những giấy tờ cần thiết khi
đi đăng ký khai sinh được quy định tại Điều 16 đó là:
“Người
đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ
quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của
người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có
giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có
biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp
khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc
mang thai hộ theo quy định pháp luật”.
Đồng thời
“Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy
thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung
khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật
vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định
danh cá nhân”.
Như vậy, khi đi khai sinh, người khai sinh cần
mang theo giấy chứng sinh, nếu không có giấy chứng sinh thì phải có giấy cam
đoan về việc sinh này. Thế nhưng người anh chồng của bạn không có những giấy tờ
này mà lại có thể khai sinh cho con của bạn. Hơn nữa, khi vợ chồng bạn đã đi
khai sinh cho con mình tại Ủy ban nhân dân thị trấn nơi bạn cư trú rồi thì các
thông tin khai sinh về con của bạn sẽ được lưu vào Sổ hộ tịch và cập nhật ngay
vào Cơ sở lưu trữ hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định
danh cá nhân. Điều này có nghĩa là Cán bộ hộ tịch thực hiện khai sinh ở xã nơi
anh chồng bạn đi khai sinh phải biết về việc đã tồn tại một bản khai sinh về
con của bạn. Do đó, bản khai sinh thứ hai do người anh chồng đi khai sinh cho
con của bạn là không hợp pháp.
Theo quy định tại Điểm k, Khoản 1, Điều 78 Nghị định 158/2005/NĐ-CP, Ủy
ban nhân dân cấp huyện có quyền ra quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ
tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái với quy định.
Căn cứ vào điều luật này thì Ủy ban nhân dân huyện nơi chồng chị cư trú
phải ra quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh do người anh chồng đi đăng ký,
vì giấy khai sinh này cấp trái với quy định pháp luật (cá nhân chỉ được quyền
đăng ký khai sinh một lần).
Luật
Tiền Phong chuyên tư vấn pháp luật và cung cấp các dịch vụ pháp lý. Liên hệ với
chúng tôi qua số tổng đài 1900 6289 để được tư vấn pháp luật miễn phí.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét