Tôi
và chồng tôi kết hôn đã được 20 năm và có tạo lập được một mảnh đất 200m2
và một căn nhà, mảnh đất đã có sổ đỏ nhưng sổ đỏ chỉ mang tên chồng của tôi. Vậy
Luật sư có thể tư vấn giúp tôi trong trường hợp vợ chồng tôi ly hôn thì tôi có
quyền hưởng một phần mảnh đất này không, vì sổ đỏ chỉ đứng tên của chồng tôi.
Luật Tiền Phong trả lời:
Trước
tiên Luật Tiền Phong xin cảm ơn sự tin tưởng của quý khách hàng đã dành chúng
tôi, đối với trường hợp trên của quý khách, Luật
Tiền Phong xin tư vấn cho quý khách theo hướng như sau:
Tài sản của vợ chồng
I. Tài sản chung của
vợ chồng bao gồm:
Theo quy
định tại Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được
xác đinh theo hướng sau:
1. Tài sản chung của vợ chồng
gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh
doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác
trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản
chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho
riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để
bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng
của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
II. Tài sản
riêng của vợ chồng:
Theo quy định tại Điều 43 của Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản riêng của vợ chồng được xác định theo hướng sau:
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết
hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản
phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của
pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản
riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ
hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
=> Từ những căn cứ xác định trên có thể thấy rằng mảnh đất trên của quý
khách thuộc về phần tài sản chung của vợ chồng. Vì nó được hình thành trong thời
kỳ hôn nhân và là sự đóng góp công sức của cả hai vợ chồng và người chồng chỉ
là đại diện để đứng tên trên sổ đỏ chứ không đồng nghĩa với việc đây là phần
tài sản riêng của chồng.
Ngoài ra theo quy định tại Điều
26 Luật Hôn nhân và gia đìhttp://luattienphong.net/luat-su-tu-van-phap-luat-mien-phi-1900-6289/nh thì trong trường hợp đại diện giữa vợ và chồng
trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng
1. Việc đại diện giữa
vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến
tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng
tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.
2. Trong trường hợp vợ
hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng
tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái
với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu,
trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ
quyền lợi.
Luật Tiền
Phong
Hy vọng đã giải đáp được phần nào những vướng mắc mà quý khách hàng
đang gặp phải
hoặc liên hệ trực tiếp tại tầng 25 B1, Tòa
nhà Bình Vượng, số 200 Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét