Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Sổ đỏ đứng tên chồng hoặc vợ thì đó có phải là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ, chồng?


Tôi và chồng tôi kết hôn đã được 20 năm và có tạo lập được một mảnh đất 200m2 và một căn nhà, mảnh đất đã có sổ đỏ nhưng sổ đỏ chỉ mang tên chồng của tôi. Vậy Luật sư có thể tư vấn giúp tôi trong trường hợp vợ chồng tôi ly hôn thì tôi có quyền hưởng một phần mảnh đất này không, vì sổ đỏ chỉ đứng tên của chồng tôi.
Luật Tiền Phong trả lời:
Trước tiên Luật Tiền Phong xin cảm ơn sự tin tưởng của quý khách hàng đã dành chúng tôi, đối với trường hợp trên của quý khách, Luật Tiền Phong xin tư vấn cho quý khách theo hướng như sau:
Tài sản của vợ chồng

I.    Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
II. Tài sản riêng của vợ chồng:
Theo quy định tại Điều 43 của Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản riêng của vợ chồng được xác định theo hướng sau:
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
=> Từ những căn cứ xác định trên có thể thấy rằng mảnh đất trên của quý khách thuộc về phần tài sản chung của vợ chồng. Vì nó được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và là sự đóng góp công sức của cả hai vợ chồng và người chồng chỉ là đại diện để đứng tên trên sổ đỏ chứ không đồng nghĩa với việc đây là phần tài sản riêng của chồng.
Ngoài ra theo quy định tại Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đìhttp://luattienphong.net/luat-su-tu-van-phap-luat-mien-phi-1900-6289/nh thì trong trường hợp đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng
1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

Luật Tiền Phong
Hy vọng đã giải đáp được phần nào những vướng mắc mà quý khách hàng đang gặp phải
Nếu cần tư vấn và hỗ trợ pháp luật quý khách vui lòng gọi 1900.6289

hoặc liên hệ trực tiếp tại tầng 25 B1, Tòa nhà Bình Vượng, số 200 Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét